Điều trị các triệu chứng lâm sàng ở mắt do nhiễm Demodex folliculorum bằng ivermectin

Demodex (từ Hy lạp: demo sáp hoặc chất béo; dex côn trùng) là một loại ký sinh trùng rất nhỏ của lớp Arachnid và Acarina ký sinh phổ biến ở người. Trong số các loài khác nhau, chỉ có 2 loài thường ký sinh trên bề mặt cơ thể người: Demodex folliculorum longusDemodex olliculorum brevis. Demodex có xu hướng tập trung ở mặt, má, trán, mũi và phía ngoài vành tai, nơi tuyến bã nhờn bài tiết các chất cung cấp một môi trường sống thuận lợi cho chúng. Demodex folliculorum longus thường được tìm thấy trong phần ống của những nang có lông và của lông mi. Demodex folliculorum brevis được tìm thấy ở sâu trong các ống của tuyến bã nhờn, tuyến lông mi.

Demodex folliculorum có liên quan đến viêm bờ mi ở mắt và mụn trứng cá đỏ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi vì các bệnh nhân có các triệu chứng về mắt không phải luôn luôn có sự hiện diện của Demodex. Demodex với mật độ thấp có thể được tìm thấy ở những người không có các triệu chứng viêm do Demodex gây lên, do đó Demodex chỉ là thứ yếu liên quan đến bệnh học của viêm bờ mi. Các nghiên cứu trước đây cho thấy một loạt các phương pháp sát trùng để kiểm soát và diệt trừ D. folliculorum ở các nang lông như axit salicylic, selenium sulphid, metronidazol, lindan, dầu cây trà, và ivermectin kết hợp với permethrin bôi ngoài da.

Việc điều trị Demodex ở mi mắt vẫn chưa có một phác đồ thống nhất. Một số tác giả đã nghiên cứu điều trị viêm da trứng cá đỏ giống như bệnh mãn tính ở da mặt và mí mắt bằng ivermectin dùng đường uống và tiếp theo là bôi permethrin. Tuy nhiên, hiệu quả của nó trong điều trị về mắt vẫn chưa rõ ràng. Vì vậy nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ kết quả lâm sàng điều trị về mắt do D. folliculorum gây ra bằng ivermectin đường uống.

PHƯƠNG PHÁP

12 bệnh nhân (mắc bệnh cả 2 mắt) (3 nam, 9 nữ) với triệu chứng viêm bờ mi được bác sĩ chuyên khoa sâu về nhãn khoa chẩn đoán đã được đưa vào nghiên cứu này.

Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí sau đây:

(1) sự biểu hiện các dấu hiệu và triệu chứng của viêm bờ mi mãn tính;

(2) phương pháp điều trị toàn thân và phác đồ cũ hơn không có tiến triển;

(3) sự hiện diện của Demodex theo phương pháp mô tả dưới đây:

Bệnh nhân: (1) không dùng bất kỳ thuốc kháng viêm hay thuốc kháng khuẩn toàn thân hoặc tại chỗ 60 ngày trước khi bắt đầu nghiên cứu, (2) không có các bệnh về giác mạc (viêm loét biên, mờ đục, vết sẹo, viêm, phù nề, khối u), bị loại khỏi nghiên cứu này nếu: trước đó có phẫu thuật mắt, sự hiện diện của bất kỳ nhiễm trùng giác mạc nào, tiền sử quá mẫn với thuốc ivermectin, có bất kỳ tình trạng viêm trong mống mắt nào, bệnh tăng nhãn áp, mang thai.

Định lượng số lượng tuyệt đối của D. folliculorum tìm thấy trên lông mi, điểm nhuộm bengal giác mạc fluorescein và tăng đều thu được từ tất cả các bệnh nhân 1 ngày trước và 28 ngày sau khi điều trị bằng ivermectin.

Một phương pháp lấy mẫu cải tiến và kiểm tra Demodex được sử dụng trong nghiên cứu này. Sử dụng một kính hiển vi quang học với độ phóng đại 75 lần để phát hiện và đếm số lượng Demodex. Số lượng Demodex tìm thấy trong 2 hàng mi được ghi lại.

Bệnh nhân được hướng dẫn uống 1 liều ivermectin (200µg/kg dạng viên nén 6mg). Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn để lặp lại điều trị sau 7 ngày. Tất cả các phép đo được thực hiện bởi 1 người giám định (FGH), dưới sự kiểm soát về nhiệt độ và độ ẩm. Dữ liệu được thể hiện độ lệch chuẩn dưới dạng trung bình. Mức độ sử dụng có ý nghĩa là p.05

KẾT QUẢ

Sự phân bố và số trung bình của D. folliculorum tìm thấy trong các lông mi và mi mắt sau khi dùng ivermectin đường uống được ghi nhận và thống kê. Kết quả quan sát thấy sự sụt giảm tổng số lượng tuyệt đối D. folliculorum trên các lông mi và 66,95% D. folliculorum trên mi mắt sau khi điều trị bằng ivermectin đường uống.

BÀN LUẬN

Một số tác giả đánh giá vai trò của D. foliculorum trong sinh bệnh học của viêm mắt và mi mắt. Một số đã mặc nhiên công nhận Demodex có thể gây ra sưng phồng nang lông và tăng sản biểu mô do tiếp xúc với chân của nó trên bờ mi của mắt bị nhiễm. Những tác giả khác lưu ý rằng các cơ quan của Demodex có thể đóng vai trò như là vectơ mang vi khuẩn. Bằng chứng rõ ràng là sự tham gia của Demodex ở mắt bị xâm nhiễm đã được mô tả cũng gây ra những bất thường trong các bề mặt mắt, nang lông mi, và các tuyến Meibomian.

Trong nghiên cứu này, đã ghi nhận sự giảm đáng kể số lượng Demodex trên lông mi và sự cải thiện trong màng mắt của những bệnh nhân được điều trị bằng ivermectin. Vì vậy việc cải thiện các điều kiện bề mặt nhãn cầu có thể là kết quả của việc cải thiện tình trạng viêm trên bề mặt mắt, kết mạc, và các tuyến Meibomian thường được tìm thấy trong nhiễm Demodex. Trước đây, các tác giả khác đã báo cáo có sự giảm các triệu chứng viêm và các dấu hiệu khác sau khi được điều trị viêm bờ mi do Demodex gây ra.

Tất cả bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu này đã cải thiện các triệu chứng lâm sàng. Cần lưu ý rằng điều trị bằng ivermectin tác dụng toàn thân có thể cải thiện sự mất ổn định về tiết nước mắt liên quan đến viêm bờ mi mạn tính gây ra bởi nhiễm Demodex. Tuy nhiên, những thay đổi ở mắt không nhất thiết phải tiên đoán thêm các cải thiện triệu chứng khác của bệnh nhân, do thiếu một tiêu chuẩn chuẩn hóa với các triệu chứng cấp, một nghiên cứu tiềm năng kiểm soát trong tương lai với cỡ mẫu lớn hơn có thể làm rõ hiệu quả của thuốc ivermectin dùng đường uống.

Các tác dụng phụ thường gặp nhất ở những bệnh nhân sử dụng thuốc ivermectin đường uống là tiêu chảy, chóng mặt và buồn nôn. Các triệu chứng khác cũng đã được mô tả, như dị ứng, đau mắt, sưng da, ngất xỉu, nhịp tim nhanh, sốt, đau khớp, thay đổi thị lực và vàng da hoặc mắt. Trong nghiên cứu này, không có bệnh nhân nào có tác dụng phụ.

Một loạt các phương pháp đếm Demodex được mô tả liên quan đến rụng lông mi. Các nghiên cứu trước đây đã cố gắng chứng minh mối quan hệ gây bệnh giữa số lượng lông mi và số lượng Demodex. Tuy nhiên, mối quan hệ này vẫn chưa rõ. Tiếp tục điều tra là cần thiết để làm rõ các khả năng gây bệnh ở mắt của Demodex, bởi vì một số lượng thấp có thể được tìm thấy ở các cá nhân không có triệu chứng.

Ivermectin là một thuốc chống ký sinh trùng phổ rộng chủ yếu được sử dụng để điều trị giun lươn. Tuy nhiên, các tác dụng khác như sử dụng hỗ trợ để phòng chống một số động vật chân đốt như ve và rận. Nó là một loại thuốc đơn liều và được dung nạp rất tốt ở bệnh nhân.

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy ivermectin dùng đường uống có thể rất hữu ích như là một thuốc bổ sung trong điều trị nhiễm Demodex với biểu hiện ở mắt, đặc biệt là trong trường hợp điều trị không thành công liên quan đến việc tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân.

TS. Phùng Đức Truyền
(Lược dịch từ “Clinical Treatment of Ocular Demodex folliculorum by Systemic Ivermectin” của tác giả Fla1vio Gaieta Holzchuh et al)

(Cập nhật: 15:14 PM - 21/08/2015)




Các bản tin khác:

  Phương pháp thu hồi và bảo quản sán dây trưởng thành tại Phòng khám bệnh chuyên khoa Ký sinh trùng (13/11/2015)
  Ốc Neotricula aperta - vật chủ trung gian truyền bệnh sán máng (Schistosoma mekongi) (29/10/2015)
  Bệnh giun chỉ Onchocerca hay bệnh mù lòa đường sông (14/10/2015)
  Nhau thai nhiễm Schistosoma haematobium (Báo cáo ca bệnh) (25/09/2015)
  Các ký sinh trùng thường gây hại cho mắt (25/08/2015)
  Bình luận về hoạt động phòng chống giun truyền qua đất trên thế giới từ khi bắt đầu tới nay (07/08/2015)
  Chẩn đoán bệnh do ký sinh trùng: Phương pháp tiếp cận sinh học phân tử (08/07/2015)
  Bệnh do sán máng - một trong những bệnh nhiệt đới lãng quên (03/07/2015)
  Bệnh do sán máng (Schistosomiasis) xuất hiện châu Âu (01/07/2015)
  Thử nghiệm vắc xin phòng bệnh Chagas ở chuột (17/06/2015)
  Sự thay đổi gen nhanh chóng giúp ký sinh trùng sốt rét ẩn trong cơ thể người (05/01/2015)
  Phát hiện mới giúp chống lại bệnh ngủ châu Phi (15/12/2014)
  Mối liên quangiữa T. gondii và bệnh tâm thần phân liệt (15/12/2014)
  Định danh loài sán dải sống trong não người bằng giải trình tự gen (15/12/2014)
  Giải mã gen của loài muỗi mang ký sinh trùng sốt rét (15/12/2014)
Tiêu điểm
Trung tâm TT Dịch vụ khoa học kỹ thuật
Cổng thông tin điện tử Phòng chống giun sán
Kham chua benh- Dich vu KHKT